Tải Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW

Link Tải Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW chính thức:

Tải về máy (442,9 KB)
Tải về máy (Link dự phòng 1)
Tải về máy (Link dự phòng 2)
Tải về máy (Link dự phòng 3)


Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW - Mẫu báo cáo nâng cao khả năng lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

 mtaive.com xin giới thiệu xuất hiện những bạn Mẫu Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW được chúng tôi tổng hợp chi tiết, và tải lên ngay sau đây. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW là mẫu thông báo kết quả thực hiện được lập ra nhằm đưa ra kết quả thực hiện và những tồn tại phải vượt qua tại cơ sở cho việc nâng cao khả năng lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Mời những bạn chung tham khảo.

ĐẢNG BỘ TỈNH ………..

ĐẢNG UỶ KHỐI …………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Số: 16 -BC/ĐU………., ngày … tháng … năm …

BÁO CÁO
……….. thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Trung ương và Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X)

 

I- Đặc điểm tình trạng

1.Thuận lợi:

Đảng bộ khối những cơ quan tỉnh gồm có những tổ chức cơ sở đảng trong những cơ quan ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Đảng bộ có tính đặc thù là chưa có chính quyền với cấp, tuy nhiên Đảng bộ khối những cơ quan tỉnh lại có địa điểm cần thiết trong lãnh đạo cán bộ, đảng viên triển khai, tổ chức, kiểm tra việc thực hiện những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đảng bộ khối đều đặn được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ tỉnh uỷ; sự phối hợp chặt chẽ của những ban xây dựng đảng của tỉnh, lãnh đạo những cơ quan phải việc chỉ đạo và triển kđôi thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước và những thử thách chính trị căn bản thuận lợi.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên có trí tuệ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có tinh thần đoàn kết thống nhất vượt qua khốn khó, thách thức, thực hiện thắng lợi thử thách chính trị, công tác xây dựng Đảng, đoàn thể, góp phần cần thiết vào sự nghiệp tăng trưởng, phát triển kinh tế- cộng đồng của tỉnh.

2- Khó khăn:

Tình hình kinh tế, chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến rắc rối; thiên tai, dịch bệnh trong nước liên tục xảy ra; giá cả nhiều mặt hàng tăng cao; tệ nạn cộng đồng, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn bớt và đẩy lùi, phần nào từng ảnh hưởng xuất hiện tư tưởng của cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ.

Các đồng chí cấp uỷ cơ sở đều kiêm nhiệm, thử thách chuyên môn chi phối nhiều, thời gian giành cho công tác Đảng còn ít; nghiệp vụ công tác Đảng một vài đồng chí còn hạn chế phải phần nào ảnh hưởng đến kết quả hoạt động công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ.

II- Kết quả thực hiện.

1- Đối cùng Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/02/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khoá XI).

1.1- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo:

Nhằm đáp ứng yêu cầu thử thách thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình hiện nay. Ban Thường vụ Đảng uỷ có được kế hoạch chỉ đạo những cấp uỷ cơ sở triển kđôi học tập và tổ chức nghiên cứu sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức những Nghị quyết hội thảo lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X); Chương trình việc làm số 33-CTr/TU, ngày 05/05/2008 của Tỉnh uỷ, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh về xây dựng chỉnh đốn Đảng.

Thực hiện Kế hoạch số 39-KH/TU, ngày 04/04/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Ban Thường vụ Đảng uỷ khối từng xây dựng kế hoạch số 25-KH/ĐU, ngày 24/4/2008; Chương trình việc làm số 16-CTr/ĐU, ngày 25/4/2008 về tổ chức triển kđôi thực hiện những Nghị quyết hội thảo lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời yêu cầu những cấp uỷ cơ sở căn cứ vào tình trạng thực trạng của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của đơn vị để xây dựng chương trình việc làm cụ thể, thiết thực, hợp cùng tình trạng của tổ chức mình. Trước hết, nên triển kđôi thực hiện đồng bộ những giải pháp để nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh cùng thực hiện cuộc vận động “Học tập và thực hiện như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, việc làm và hiệu quả công việc; làm chuyển biến vai trò lãnh đạo, nổi bật là của bí thư cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và những cấp uỷ viên.

1.2- Kết quả tổ chức thực hiện:

Đảng uỷ khối từng xây dựng kế hoạch, tổ chức hội thảo cán bộ chủ chốt nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X); bằng Chương trình việc làm số 33- CTR/TU, ngày 5/5/2008 của Tỉnh uỷ và Chương trình việc làm số 16-CTr/ĐU, ngày 25/4/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ khối về “ Nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đâu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Sau hội thảo của Đảng bộ khối, những cấp uỷ cơ sở từng chủ động xây dựng kế hoạch mở lớp và thực hiện triển khai, quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Nhiều chi, đảng bộ cơ sở từng xây dựng được chương trình việc làm thực hiện Nghị quyết có tính khả thi như: ĐB Sở Giao thông- vận tải; ĐB Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn, ĐB Viện kiểm sát Tỉnh, ĐB Sở Khoa học & công nghệ , CB Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ . . .

Trong các giai đoạn triển kđôi thực hiện nghị quyết, những cấp uỷ cơ sở trong khối từng tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng chính trị chắc chắn, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, rất tiền phong gương mẫu, có khả năng nhận và làm xong tốt thử thách được cấp uỷ, cơ quan giao. Nhiều tổ chức cơ sở đảng giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; từng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên; nổi bật từng tổ chức triển kđôi thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và thực hiện như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua đấy từng xây dựng được sự đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ cấp uỷ, chi, đảng bộ và cơ quan.

Thực hiện chủ trương hoàn thiện mô hình tổ chức những loại hình cơ sở đảng theo hướng gắn tổ chức cơ sở đảng cùng lãnh đạo thực hiện thử thách chính trị. Ban hay vụ Đảng uỷ khối từng tập trung rà soát, làm những thủ tục chuyển giao 14 tổ chức cơ sở đảng cùng trên 300 đảng viên đang sinh hoạt tại Đảng uỷ khối những cơ quan tỉnh về sinh hoạt tại Đảng uỷ khối Doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 07-NT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, đồng thời chủ động kiện toàn, sắp xếp tổ chức những chi, đảng bộ cơ sở hợp cùng tính năng, thử thách chuyên môn. Thường xuyên tò mò xây dựng, củng cố và cho vào, kiện toàn cấp uỷ viên tại những tổ chức cơ sở đảng, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, góp phần nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ.

Lúc được nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết hội thảo lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X), những cấp uỷ cơ sở từng nhận thức đầy đủ hơn địa điểm, vai trò, tính năng, thử thách của tổ chức cơ sở đảng, có nhiều đổi mới trong công tác lãnh đạo thực hiện thử thách chính trị, công tác xây dựng Đảng và công tác lãnh đạo những đoàn thể chính trị- cộng đồng.

Về lãnh đạo thực hiện thử thách chính trị: Hầu hết cấp uỷ cơ sở từng bgiết hại thử thách chính trị, từ thực tiễn hoạt động của cơ quan và đối tượng, chỉ tiêu cụ thể để xây dựng chương trình việc làm thực hiện nghị quyết. Trên cơ sở thử thách của đã năm những cấp uỷ từng cụ thể hoá bằng những chương trình công tác đã tháng, quý để có hướng lãnh đạo thực hiện, góp phần làm xong thắng lợi thử thách chính trị của tỉnh và ngành giao.

Về công tác xây dựng đảng: những cấp uỷ từng lãnh đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có nền thói quen chế độ sinh hoạt định kỳ theo quy định Điều lệ Đảng, đều đặn tò mò đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng buổi sinh hoạt và phương thức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; trong sinh hoạt chi uỷ, chi bộ bước đầu có được nhiều chuyển biến, bảo đảm tính lãnh đạo- tính giáo dục- tính chiến đấu và tỏ ra được đầy đủ những nguyên tắc của Đảng như: nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng, góp phần cần thiết cho việc nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhất là, hàng năm Đảng uỷ và những tổ chức cơ sở đảng trong khối đều đặn tò mò đến công tác phát triển đảng viên mới, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và củng cố những tổ chức cơ sở đảng kém kém. Kết quả cụ thể như sau:

Năm 2006 có: ..............(= ............%) TCCS Đảng đạt trong sạch vững mạnh;

Năm 2007 có: ............(= ............%) TCCS Đảng đạt trong sạch vững mạnh;

Năm 2008 có: ............ (= ............%) TCCS Đảng đạt trong sạch vững mạnh;

Năm 2009 có: ............(= ............%) TCCS Đảng đạt trong sạch vững mạnh;

Năm 2010 có: ............ (= ............%) TCCS Đảng đạt trong sạch vững mạnh.

……………………….

.......................................

Về công tác lãnh đạo những đoàn thể chính trị- cộng đồng: trên cơ sở đề tài của đã năm, những cuộc vận động và những phong trào thi ĐUa yêu nước do Đảng, Nhà nước và những cấp những ngành phát động. Cấp uỷ cơ sở từng lãnh đạo những tổ chức chính trị- cộng đồng của cơ quan đều đặn tổ chức tốt những hoạt động theo quy định điều lệ của tổ chức mình; phát động sâu rộng, toàn diện những phong trào thi Đua, những cuộc vẩn động. Việc tổ chức những phong trào thi Đua được lồng ghép và gắn cùng việc thực hiện những cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước như: “Học tập và thực hiện như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và đấu tranh phòng , chống tham nhũng . . .

Nhiều cấp uỷ cơ sở từng phối hợp chặt chẽ cùng lãnh đạo cơ quan để xây dựng hệ thống những quy định, quy chế của cơ quan và tổ chức thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở. Bước đầu, dân chủ trong Đảng và trong những hoạt động của cơ quan được mở rộng hơn. Công tác quy hoạch, huấn luyện, bồi dưỡng, luân chuyển, xẻ nhiệm cán bộ được thực hiện đúng quy trình, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của Ban tổ chức Trung ương. Đại đa số cấp uỷ viên và cán bộ, đảng viên của Đảng bộ khối những cơ quan tỉnh từng được rèn luyện, nhiệm vụ và trưởng thành qua thực tiễn công tác, gương mẫu thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, luôn làm xong tốt thử thách được giao. Nhiều cán bộ, đảng viên trẻ được huấn luyện căn bản, có phẩm chất, khả năng tốt thích ứng cùng mọi môi trường công tác, sẵn sàng nhận thử thách khi được điều động luân chuyển về cơ sở.

2- Đối cùng Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ( khoá XI).

2.1- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Lúc có Chỉ thị số 10- CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá XI) về “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”. Ban Thường vụ Đảng uỷ khối từng cho sao lục gợi đến 100% những tổ chức cơ sở đảng, đồng thời tập trung chỉ đạo những cấp uỷ cơ sở tổ chức phổ biến, quán triệt mục đích, yêu cầu và nội dung Chỉ thị đến toàn thể cán bộ, đảng viên, nhằm hỗ trợ cho những cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên nhận thức sâu sắc vai trò, địa điểm cần thiết của tổ chức cơ sở đảng và của chi bộ; ý nghĩa và tầm cần thiết của việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đối cùng việc nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 13/7/2007 Ban Thường vụ Đảng uỷ khối có được Thông báo số 36-TB/ĐU phân công những đồng chí uỷ viên Thường vụ, lãnh đạo những Ban xây dựng Đảng của Đảng uỷ trực tiếp theo dõi, chỉ bảo và dự sinh hoạt cùng những chi, đảng bộ cơ sở. Trên cơ sở đó, Ban hay vụ yêu cầu những đồng chí được phân công dự sinh hoạt nên đều đặn kiểm tra, gigiết hại và đôn đốc những tổ chức cơ sở đảng chấp hành chế độ sinh hoạt theo quy định Điều lệ Đảng; chỉ bảo những tổ chức cơ sở đảng duy từ thời gian, thực hiện tốt quy trình, nội dung, tính chất của mỗi buổi sinh hoạt theo đúng tinh thần Chỉ thị và Hướng dẫn số 05-HD/BTOW, ngày 25/5/2007 của Ban Tổ chức Trung ương.

Nhằm ko ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong toàn Đảng bộ khối, Ngày 10/10/2007 Ban Chấp hành Đảng bộ từng ban hành Nghị quyết số 01 - NQ/ĐU về “nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ trong những tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ khối”. Cùng cùng việc ban hành nghị quyết, Đảng uỷ từng tập trung chỉ đạo cấp uỷ cơ sở, chi bộ thực hiện tốt chế độ sinh hoạt và tích cực đổi mới nội dung sinh hoạt cho hợp cùng tính năng, thử thách của cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng Đảng của chi bộ. Trước hết, trong sinh hoạt chi bộ nên bảo đảm đầy đủ 3 tính chất: Tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu; đồng thời tỏ ra đúng nguyên tắc, trình tự khoa học để mỗi buổi sinh hoạt chi bộ rất là diễn đàn dân chủ, góp phần phát huy trí tuệ, tính sáng tạo của đảng viên trong thực hiện thử thách chính trị.

Định kỳ, Ban Thường vụ Đảng uỷ tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, gigiết hại những cấp uỷ cơ sở cho việc duy trì nền thói quen sinh hoạt theo quy định Điều lệ Đảng; công tác sẵn sàng nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư. Nhất là, để việc nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ của những tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối có hiệu quả.

Ban Thường vụ Đảng uỷ từng xây dựng Kế hoạch số 35-KH/ĐU, ngày 24/04/2009 và Kế hoạch số 04-KH/ĐU, ngày 24/05/2011 thực hiện kiểm tra đối cùng tất cả những tổ chức cơ sở đảng cho việc tổ chức triển kđôi thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/ĐU, ngày 10/10/2007 của Ban Chấp hành đảng bộ về “Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ tại những tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ khối”, theo kế hoạch Ban Thường vụ từng quyết định thành lập 2 đoàn kiểm tra và triển kđôi kiểm tra trực tiếp tại 26 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ, còn lại những chi, đảng bộ tự thực hiện kiểm tra theo kế hoạch và gửi thông báo kết quả kiểm tra về Đảng uỷ khối.

2.2- Kết quả tổ chức thực hiện.

100% những tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ khối từng tổ chức cho cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung Chỉ thị, Điều lệ Đảng và những quy định của Ban Bí thư về tính năng, thử thách của tổ chức cơ sở đảng, tạo sự thống nhất và nâng cao nhận thức về địa điểm nền tảng, vai .trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng và của chi bộ, bước đầu tạo chuyển biến về xây dựng chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ.

Từ khi có Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhận thức của những cấp uỷ cơ sở trong Đảng bộ khối được chuyển biến rõ rệt. Các cấp uỷ đều đặn tò mò duy trì và thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt hay kỳ theo quy định Điều lệ Đảng; tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt cao hơn trước, bình quân tỷ lệ đảng viên dự sinh hoạt đạt trên 90%, có những chi bộ luôn đạt 95% xuất hiện 100% đảng viên tham gia sinh hoạt như: Chi bộ Liên minh hợp tác xã, ĐB Trường cao đẳng nghề Việt- Đức, ĐB Sở Khoa học & Công nghệ…

Về nội dung sinh hoạt, có nhiều đổi mới. Các nội dung sinh hoạt chi bộ từng được thảo luận kỹ trong hội thảo cấp uỷ và được sự thống nhất của thủ trưởng cơ quan, hợp cùng tính năng, thử thách chính trị của đơn vị. Sau hội thảo cấp uỷ, một vài tổ chức cơ sở đảng từng gửi thông tin nội dung sinh hoạt hàng tháng bằng giấy tờ đến những chi bộ trực thuộc, để những chi bộ chủ động xây dựng nội dung buổi họp chi bộ sát cùng định hướng lãnh đạo của cấp uỷ cấp trên. Nhiều chi bộ cũng từng tổ chức được những buổi sinh hoạt chuyên đề về công tác tư tưởng, công tác phát triển đảng viên mới, nổi bật một vài chi bộ đều đặn duy trì đọc những mẩu chuyện nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong “Bản tin công tác xây dựng Đảng” của Đảng bộ khối trước khi triển kđôi những nội dung sinh hoạt chi bộ, đây là 1 nội dung hết sức xẻ ích và rất quan trọng trong sinh hoạt chi bộ, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng bộ khối, những đơn vị thực hiện tốt nội dung này là: ĐB Bảo hiểm cộng đồng, ĐB Tỉnh đoàn thanh niên, ĐB Đài phát thanh- Truyền hình, ĐB Cục Thuế tỉnh, ĐB Kho bạc Tỉnh. . .

Trong những kỳ sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ ở những tổ chức cơ sở đảng trong khối hầu hết bảo đảm 3 tính chất: Tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu; tỏ ra được nguyên tắc tập trung dân chủ, bằng những buổi dự sinh hoạt và kiểm tra công tác ghi chép sổ nghị quyết ở những chi bộ, cho nhìn những ý kiến thản luận của đảng viên từng tập trung vào nhiều việc, sôi nổi hơn và thẳng thắn phát biểu những chính kiến của mình trong các giai đoạn được phân công thực hiện thử thách chính trị.

Về công tác điều hành buổi sinh hoạt; trực tiếp do đồng chí bí thư chủ trì, bảo đảm khoa học và tỏ ra được đầy đủ quy trình, nội dung quy định tại chỉ bảo số 05-HD/BTCTW của Ban tổ chức Trung ương. Nhiều đồng chí bí thư chi bộ từng kịp thời nghiên cứu và đều đặn phổ biến tình trạng thời sự trong nước, thế giới, những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước cho cán bộ, đảng viên; nắm bắt diễn biến tư tưởng và có định hướng, động viên kịp thời những cán bộ, đảng viên còn khốn khó, nổi bật là những đảng viên có khốn khó về kinh tế để cán bộ, đảng viên yên lòng công tác và làm xong tốt thử thách được giao.

III- Đánh giá chung.

1. Ưu điểm.

Từ khi có Chỉ thị số 10- CT/TW của Ban Bí thư và Nghị quyết số 22-NQ/TWcủa Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI) xuất hiện nay, công tác xây dựng Đảng ở những tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ khối có chuyển biến rõ rệt. Nhiều tổ chức cơ sở đảng từng giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng duy trì đều đặn và thường xuyên chế độ sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ theo quy định Điều lệ Đảng. Nội dung sinh hoạt được đổi mới, bảo đảm nguyên tắc về tổ chức và sinh hoạt đảng, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong Đảng.

Trong sinh hoạt chị uỷ, chi bộ, từng rất phát huy dân chủ; nhiều chi bộ từng tập trung bàn bạc thẳng thắn và xử lý được những vẫn đề cụ thể, thiết thực, hợp cùng tính năng, thử thách của chi bộ, đáp ứng tâm tư nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên.

Nhiều tổ chức cơ sở đảng đều đặn đẩy mạnh phong trào thi Đua xây dựng chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh, củng cố, kiện toàn tổ chức và kịp thời cho vào cấp uỷ viên, phát triển đảng viên mới, góp phần nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sẽ đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

2- Khuyết điểm, tồn tại:

Việc quán triệt, triển kđôi và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TWở một vài chi, đảng bộ thực hiện chưa được nghiêm túc. Vài chi, đảng bộ mở hội thảo cho cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, tuy nhiên chưa xây dựng được kế hoạch, chương trình việc làm thực hiện Nghị quyết.

Nội dung sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ ở một vài tổ chức cơ sở đảng còn nghèo, thiếu nội dung sinh hoạt chính trị, tư tưởng; nội dung sinh hoạt chủ kém đánh giá kết quả thực hiện thử thách chuyên môn. Nhiều chi bộ chưa tổ chức được những buổi sinh hoạt chuyên đề.

Vài cấp uỷ, chi bộ chưa coi trọng địa điểm then chốt của công tác xây dựng Đảng, chưa giành nhiều thời gian cho công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, chưa tỏ ra rõ vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; tính chiến đấu tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt còn hạn chế.

Vài cán bộ, đảng viên còn có tư tưởng ngại học tập, ko đều đặn tự rèn luyện, tu dưỡng phải có biểu hiện thoái hoá về phẩm chất đạo đức, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước làm ảnh hưởng xuất hiện chi bộ và cơ quan.

3- Nguyên nhân chủ kém của tồn tại.

Vài cấp uỷ, chi bộ chưa nhận thức đúng, đầy đủ thử thách then chết của công tác xây dựng Đảng, chưa quán triệt sâu sắc địa điểm, vai trò và tính năng, thử thách của chi bộ, của tổ chức cơ sở đảng.

Cấp uỷ đều là kiêm nhiệm, chưa giành được nhiều thời gian cho công tác xây dựng đảng; chưa đều đặn lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, gigiết hại đối cùng tổ chức đảng và đảng viên; việc giải quyết cán bộ, đảng viên vi phạm chưa kiên quyết.

Công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong các giai đoạn lãnh đạo thực hiện Chỉ thị, nghị quyết ở những cấp uỷ cơ sở chưa được chú trọng và tò mò đúng mức.

IV- Những nội dung và giải pháp trọng tâm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TWcủa Ban chấp hành Trung ương và Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư ( khoá XI) trong thời gian tới.

Đảng uỷ khối và những cấp uỷ cơ sở tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/02/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về “Nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đâu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” và những chương trình việc làm thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Đảng uỷ khối.

Đảng uỷ khối tăng cường chỉ đạo những cấp uỷ cơ sở tiếp tục duy trì và thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt cáp uỷ, sinh hoạt chi bộ theo quy định Điều lệ Đảng: Tập trung vào việc đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt, nổi bật là sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt học tập, khắc phục tình hình sinh hoạt đơn điệu, lặp chạy lặp lại một nội dung. Trong sinh hoạt chi bộ nên rất mở rộng và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc và 3 tính chất của Đảng.

Thường xuyên tò mò củng cố tổ chức cơ sở đảng, kịp thời kiện toàn cho vào cấp uỷ viên; chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ cấp uỷ viên, bí thư cấp uỷ những kỹ năng cụ thể hoá trong tổ chức thực hiện những chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, phán luật của Nhà nước; tiếp tục xây dựng những tiêu chí cụ thể để đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng hàng năm cần được gắn cùng kết quả thực hiện thử thách chính trị, góp phần nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Các cấp uỷ cơ sở tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tiếp tục tổ chức thực hiện cuộc vận động “Học tập và thực hiện như tâm gương Đạo đức Hồ Chí Minh”, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng bộ khối có khả năng chính trị chắc chắn, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, rất gương mẫu, đủ khả năng nhận và làm xong tốt thử thách được giao.

Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, gigiết hại, quản lý, giáo dục đảng viên; thực hiện nghiêm túc những quy định của Bộ Chính trị về giải quyết đảng viên vi phạm, về những điều đảng viên ko được làm, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

V- Những đề xuất, kiến nghị.

1. Đối cùng Trung ương:

- Tiếp tục nghiên cứu, thống nhất nội dung, hình thức tổ chức sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ đặc biệt những nội dung sinh hoạt theo chuyên đề, nội dung sinh hoạt trong những dịp tổ chức lễ kỷ niệm trọng đại của đất nước.

- Nghiên cứu điều chỉnh tăng tỷ lệ đảng phí để lại cho chi, đảng bộ cơ sở khối những cơ quan hành chính như đối cùng Đảng bộ xã, phường, thị trấn là 90%.

2- Đối cùng Tỉnh:

- Đề nghị Tỉnh tò mò giao chỉ tiêu biên chế công tác đảng chuyên trách cho những Đảng bộ cơ sở trong những cơ quan hành chính nhà nước có từ 200 đảng viên trở lên theo quy định Điều lệ Đảng.

- Tạo điều kiện hơn nữa cho cán bộ, đảng viên, còng chức, viên chức cho việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị.

 

T/M BAN THƯỜNG VỤ

PHÓ BÍ THƯ

(Đã ký)

 


Link Tải Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và Chỉ thị số 10-CT/TW mới nhất:

Tải về máy (442,9 KB)
Link dự phòng 1 (Hoạt động)
Link dự phòng 2 (Hoạt động)
Link dự phòng 3 (Hoạt động)