Tải Nội dung học tập chuyên đề năm 2018 học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Link Tải Nội dung học tập chuyên đề năm 2018 học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính thức:

Tải về máy (501,9 KB)
Tải về máy (Link dự phòng 1)
Tải về máy (Link dự phòng 2)
Tải về máy (Link dự phòng 3)

 Nhằm thực hiện Công văn số 633-CV/BTGTU ngày 5/3/2018 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cho việc học tập chuyên đề năm 2018; viết thu hoạch và cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đảng viên năm 2018. mtaive.com xin giới thiệu xuất hiện những bạn Nội dung học tập chuyên đề năm 2018 học tập và thực hiện như tư tưởng, đạo đức, kiểu Hồ Chí Minh được chúng tôi tổng hợp chi tiết, chính xác và tải lên ngay sau đây. Mời những bạn chung tham khảo.


Tài liệu sinh hoạt chuyên đề tại chi bộ, đoàn thể, cơ quan, đơn vị năm 2018

Phần 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Khái quát

- Quan niệm kiểu:

+ Nghĩa hẹp: lề lối, phương thức của một người

+ Nghĩa rộng: Người (tỏ ra ra bên ngoài, cũng là bản chất của người đấy trước 3 việc: cùng mình/người/việc)

- Quan niệm kiểu lãnh đạo, quản lý: tổng hợp những cách thức, biện pháp, phương pháp tiêu biểu mà người lãnh đạo, quản lý sử dụng phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý.

Thể hiện ra: phẩm chất chính trị/ nhận thức, trình độ/ đạo đức riêng tư/ kinh nghiệm riêng tư/môi trường công tác.

- Quan niệm kiểu Hồ Chí Minh: Phong cách Hồ Chí Minh hiểu cùng cả đôi hàm nghĩa của “kiểu” và “tác phong”; sử dụng khái niệm “kiểu làm việc” và “kiểu lãnh đạo” để kể về kiểu, tác phong công tác trong công việc và trong lãnh đạo, điều hành đất nước.

Phong cách làm việc và kiểu lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang đậm dấu ấn riêng của Người, gắn liền cùng tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục đích sống của Người; vừa dân tộc, vừa tiên tiến; vừa khoa học, vừa cách mạng; vừa cao cả, vừa thiết thực; tỏ ra trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo đức, thẩm mỹ; là tấm gương sáng cho mọi người, mọi thế hệ người Việt Nam học tập và thực hiện như.

 1. Quan niệm về kiểu và kiểu Hồ Chí Minh

1.1. Quan niệm về kiểu

- Khái niệm kiểu: Dáng điệu bên ngoài của người ta

- Cách thức tiếp cận: Thông thường; khoa học

- Các quan niệm chủ yếu: Phong cách là cách thức riêng tỏ ra ở những tác phẩm nghệ thuật của một tác giả, một thời đại, một vùng, xứ sở...; kiểu gồm có phong độ, phẩm cách của con người (Dáng vẻ, sắc thái bề ngoài; cách cư xử, giao tiếp, sinh hoạt tỏ ra những phẩm chất về tư tưởng, tình cảm, nội tâm bên trong của con người).

Như vậy, khái niệm kiểu có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, là chỉ cần hạn trong văn học, nghệ thuật; còn theo nghĩa rộng được tỏ ra trong tất cả những mặt hoạt động của con người. Tuy nhiên dù hiểu theo nghĩa nào thì kiểu luôn là cái riêng, độc đáo (lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ, phẩm cách…) có tính hệ thống, biến thành nề thói quen yên ổn của một người hay một lớp người được tỏ ra trong tất cả những mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, cư xử, diễn đạt (kể và viết)... tạo phải những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó.

Phong cách luôn là 1 cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, yên ổn và đặc trưng của chủ thể. Nó bị chi phối bởi những nhân tố như truyền thống văn hóa, lối sống, nếp, điều kiện sống, sự trải nghiệm thực tiễn, dấu ấn riêng tư… Phong cách ko được sinh ra bẩm sinh mà chỉ cần thể được hình thành bởi sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi ko ngừng của chủ thể.

Phong cách của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên có quan hệ mật thiết cùng tư tưởng, đường lối và phương pháp cách mạng. Tư tưởng, đường lối có tính quyết định nhất, còn phương pháp là những cách thức có tính nguyên tắc để đưa đường lối vào cuộc sống. Tuy nhiên phương pháp chỉ được thực hiện bằng hoạt động cụ thể của những con người cụ thể cùng những kiểu, trình độ khác nhau.

Phong cách có ảnh hưởng chặt chẽ cùng đạo đức; đạo đức được tỏ ra qua kiểu; qua kiểu có thể đánh giá được đạo đức, đánh giá được nhân cách của một con người. Do đó, xây dựng cho mình một kiểu mới, kiểu mang tính cách mạng và khoa học là công việc của mỗi người nên phấn đấu bền bỉ suốt đời.

1.2. Phong cách Hồ Chí Minh

Trước Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta hay sử dụng khái niệm “tác phong” để kể về “tác phong Hồ Chủ tịch”. Hai chữ “tác phong” được hiểu là kiểu làm việc và kiểu công tác của Hồ Chí Minh. Từ Đại hội VII, “tác phong” được thay bằng “kiểu” trong cụm từ “Tiếp tục bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, kiểu Hồ Chí Minh”.

- Mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng, phương pháp và kiểu Hồ Chí Minh.

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh: Hệ thống những quan điểm toàn diện, sâu sắc về những việc căn bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự ứng dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tế nước ta, kế thừa và phát triển những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, học hỏi tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần cực kỳ to lớn, quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

+ Phương pháp Hồ Chí Minh: Phân biệt những khái niệm: Phương pháp luận Hồ Chí Minh; phương pháp Hồ Chí Minh; phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh; quan niệm về phương pháp Hồ Chí Minh: Cách thức sự thật hoá tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

+ Phong cách Hồ Chí Minh: Phong độ, phẩm cách con người Hồ Chí Minh được tỏ ra qua cư xử, giao tiếp, sinh hoạt để làm thành những phẩm chất yên ổn về tư tưởng, tình cảm, đời sống nội tâm của bản thân riêng tư Hồ Chí Minh.

+ Sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng, phương pháp và kiểu Hồ Chí Minh: Cơ sở chủ kém là sự thống nhất giữa đối tượng, thử thách, nội dung cách mạng cùng phương pháp sự thật hoá đối tượng, nội dung đấy trong thực tế; tính toàn vẹn, toàn diện của nhân cách Hồ Chí Minh.

- Đặc điểm chủ kém trong kiểu Hồ Chí Minh: Phong cách của một người Việt Nam bình thường; kiểu của người Anh hùng dân tộc vĩ đại; kiểu của một nhà văn hoá kiệt xuất làm thành những giá trị lâu dài của một tấm gương trong sáng, cao đẹp.

Từ quan niệm trên cho thấy: Phong cách Hồ Chí Minh là những đặc trưng giá trị mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, được tỏ ra trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người. Phong cách Hồ Chí Minh là 1 bộ phận cần thiết trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho dân tộc ta. Là một chỉnh thể thống nhất, gồm có kiểu tư duy, kiểu làm việc, kiểu cư xử, kiểu diễn đạt, kiểu sinh hoạt…

Phong cách Hồ Chí Minh là kiểu của người Việt Nam. Đấy là kiểu của một con người cùng nhân cách siêu việt, cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí minh mẫn, cái hành mực thước, kiểu của một lãnh tụ, một vĩ nhân, một chiến sĩ cộng sản chân chính, của người công dân số một của Việt Nam. Đấy còn là kiểu của người anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà văn hóa kiệt xuất. Phong cách của Người ko chỉ là bài học, là chuẩn mực trong việc xây dựng kiểu người cán bộ cách mạng mà còn bồi dưỡng nhân cách cho những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

2. Hệ thống kiểu Hồ Chí Minh

Phong cách Hồ Chí Minh là 1 chỉnh thể cùng nội dung nhiều tầng ý nghĩa, phát triển theo lôgíc chạy từ suy nghĩ (kiểu tư duy) xuất hiện nói, viết (kiểu diễn đạt) và biểu hiện ra qua hoạt động sống hàng ngày (kiểu làm việc, kiểu cư xử, kiểu sinh hoạt).

2.1. Phong cách tư duy

- Phong cách tư duy khoa học, cách mạng và tiên tiến

- Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo

- Phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình

2.2. Phong cách làm việc, lãnh đạo

- Phong cách làm việc khoa học, khách quan, trung thực

- Phong cách làm việc luôn đổi mới

- Phong cách lãnh đạo dân chủ, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách

- Phong cách lãnh đạo gắn cùng kiểm tra, kiểm soát cụ thể, đều đặn

- Phong cách quần chúng, luôn luôn gần dân, tin dân, trọng dân, tựa vào dân, gắn bó cùng nhân dân

- Phong cách nêu gương

2.3. Phong cách diễn đạt

- Cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực

- Diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, trong sáng, có lượng thông báo cao

- Sinh động, gần gũi cách nghĩ của quần chúng, gắn cùng những hình ảnh, sự ví von, so sánh cụ thể

- Phong cách diễn đạt luôn luôn biến hóa, nhất quán mà phong phú

2.4. Phong cách cư xử

- Khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp

- Chân tình, nồng hậu, tự nhiên

- Linh hoạt, chủ động, biến hóa

2.5. Phong cách sống

- Sống cần, kiệm, liêm, chính

- Sống hài hòa, kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa Đông - Tây

- Tôn trọng quy luật tự nhiên, gắn bó cùng thiên nhiên

Phần 2
XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ,
ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Khái quát

- Phong cách dân chủ:

+ Phong cách dân chủ hoặc “cách làm việc dân chủ” là kiểu cao nhất mà người cán bộ phải có.

+ Không khí dân chủ rất trong nội bộ cần được tạo ra bằng việc thành tâm lắng nghe và khơi gợi cho cán bộ, đảng viên, quần chúng, cấp dưới kể hết quan điểm, ý kiến của mình.

+ Người có kiểu dân chủ là thực hành tốt nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách”; biết phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của nhiều người; thành thực lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới và nghiêm túc sửa mình cùng tinh thần “cầu thị”.

+ Dân chủ tuy nhiên có định hướng, có lãnh đạo, dân chủ nên chạy xuất hiện sự tập trung chứ ko nên dân chủ quá trớn, dân chủ vô tổ chức.

- Phong cách quần chúng:

+ Xuất phát từ việc có tính nguyên tắc về vai trò của quần chúng nhân dân.

+ Yêu cầu người cán bộ nên gần gũi quần chúng, lắng nghe và thấu hiểu mong có ý định của quần chúng; đều đặn chạy xuống cơ sở mà mình phụ trách, khám phá thực trạng đời sống, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng.

+ Không có nghĩa là “theo đuôi quần chúng” mà nên có khả năng chắc chắn để vừa nâng cao trình độ, giác ngộ dân trí của quần chúng, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.

- Phong cách khoa học

+ Lúc tìm hiểu và quyết định mọi việc đều nên tìm nguyên nhân, nghiên cứu, phân tích toàn diện, nên tôn trọng quy trình ra quyết định, tranh thủ ý kiến của tập thể lãnh đạo và quần chúng.

+ Làm việc nên có mục đích và kế hoạch rõ ràng, thiết thực; biết kính mến thời gian, phân xẻ và tập trung xử lý dứt điểm đã công việc; ko ôm đồm; nên có tầm thấy tổng thể, ko được rơi vào “Bệnh cận thị”; nên có cách đánh giá đúng người, đúng việc, sắp xếp công việc cho hợp lý; có kiểm tra, gigiết hại công việc; có rút kinh nghiệm cho lần sau và cho người khác.

- Phong cách nêu gương

+ Mỗi cán bộ, đảng viên đều nên tự làm gương trong mọi công việc, từ bé xuất hiện lớn, tỏ ra thưòng xuyên về mọi mặt; nên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kể nên chạy hai cùng làm để cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo.

+ Phải nêu gương trên ba mối quan hệ cùng mình, cùng người, cùng việc. Đối cùng mình đúng ko tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân; nên tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày. Đối cùng người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, ko dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối cùng việc, dù trong tình cảnh nào cũng nên giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” đặt việc công lên trên, lên trước việc tư.

+ Cách thức nêu gương: kể nên chạy hai cùng làm trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, khắp nơi; nên nêu gương đều đặn, liên tiếp.

+Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, cần “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau”.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ. Người coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy” và chạy xuất hiện kết luận: “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì thế, Người thực sự tò mò xuất hiện xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, trong đấy có xây dựng, rèn luyện kiểu công tác.

Xây dựng kiểu làm việc người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, đạo đức, kiểu Hồ Chí Minh cần tập trung thực hiện những nội dung sau:

1. Phong cách dân chủ, quần chúng

Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ là: kiểu dân chủ hoặc “cách làm việc dân chủ” là kiểu cao nhất mà người cán bộ phải có. Người chỉ rõ:

“Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của những cơ quan Nhà nước trong chế độ ta” và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng cần được tự do”. Vì thế, ko khí dân chủ rất trong nội bộ cần được tạo ra bằng việc thành tâm lắng nghe và khơi gợi cho cán bộ, đảng viên, quần chúng, cấp dưới kể hết quan điểm, ý kiến của mình. Được như thế thì cấp dưới và quần chúng mới nhiệt tình đề ra sáng kiến, “tiếp thu sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Những sáng kiến đấy được coi trọng, được ca ngợi thì những người có sáng kiến càng thêm nhiệt tình làm việc. Phong cách dân chủ của người cán bộ ko chỉ khơi nguồn sáng tạo, phát huy tinh thần làm việc, cống hiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân, mà còn khiến tổ chức, cơ quan, đoàn thể thêm gắn bó.

Người có kiểu dân chủ là thực hành tốt nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách”, đấy cũng là cách “để phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của nhiều người”. Cán bộ ko được “độc tôn chân lý”, nên thành thực lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới và nghiêm túc sửa mình cùng tinh thần “cầu thị, làm như thế thì bảo đảm người cán bộ sẽ được Nhân dân yêu mến, cấp dưới nể trọng, sẵn sàng đóng góp sáng kiến. 

Phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ có định hướng, có lãnh đạo, dân chủ nên chạy xuất hiện sự tập trung chứ ko nên dân chủ quá trớn, dân chủ vô tổ chức. Một trong những nguyên tắc căn bản trong tổ chức và sinh hoạt đảng là “tập trung dân chủ”. Nói về sức mạnh của dân chủ, Hồ Chí Minh đã nói: “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể xử lý mọi khốn khó”. Nếu như người cán bộ chưa có tác phong dân chủ hay “Miệng thì kể dân chủ, tuy nhiên làm việc thì họ theo lối "quan” chủ” là họ tự tước chạy của mình vũ khí hữu ích nhất để làm xong thử thách. Lúc đấy, dù có “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn ko chạy”.

Phong cách dân chủ yêu cầu người cán bộ, đảng viên nên tin yêu và tôn trọng con người, lưu ý lắng nghe ý kiến và xử lý những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng học hỏi phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình.

Gắn bó mật thiết cùng kiểu dân chủ là kiểu quần chúng. Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ nên có kiểu làm việc quần chúng, xuất phát từ việc có tính nguyên tắc về vai trò của quần chúng nhân dân: “Dễ mười

lần ko dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Phong cách quần chúng yêu cầu người cán bộ nên gần gũi quần chúng, lắng nghe và thấu hiểu mong có ý định của quần chúng. Người cán bộ nên đều đặn chạy xuống cơ sở mà mình phụ trách, khám phá thực trạng đời sống, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng. Người khẳng định: nếu “cách xa dân chúng, ko liên hệ chặt chẽ cùng dân chúng, và đứng lơ lửng giữa trời, tất yếu thất bại”.

Phong cách quần chúng chưa có nghĩa là “theo đuôi quần chúng”, bởi vì theo Hồ Chí Minh “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau”. Vì thế, người cán bộ nên có khả năng chắc chắn để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.

Phong cách quần chúng Hồ Chí Minh là nên biết cách tổ chức phong trào hợp cùng trình độ, khả năng thực tế của quần chúng, ko chủ quan, duy ý chí, áp đặt thực tiễn theo ý mình. Theo Người, “nếu cứ thực hiện như ý định, theo tư tưởng, theo chủ quan của mình, rồi đem cột vào cho quần chúng, thì khác nào “khoét chân cho vừa giầy”,.. Ai cũng đóng giầy theo chân. Không người nào đóng chân theo giầy”. Người khẳng định: “cách làm việc, cách tổ chức, chuyện trò, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, của chúng ta, đều nên lấy câu này làm khuôn phép: “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”, “tựa vào lực lượng quần chúng”.

Phong cách quần chúng của cán bộ, đảng viên tỏ ra rõ trong những nếp sinh hoạt hằng ngày. Người cán bộ nên giản dị, hòa đồng cùng quần chúng, ko cho phép mình hưởng điều gì có tính chất “đặc quyền, đặc lợi”. Người cảnh tỉnh những suy nghĩ lệch lạc trong cán bộ, là “nên ăn mặc bảnh mới giữ được oai tín, giữ được thể diện”. Lúc người cán bộ thấm nhuần tác phong quần chúng, họ sẽ được quần chúng nhân dân thương yêu, tin cậy, ủng hộ và khi đó, chuyện gì họ làm cũng thành công.

2. Phong cách khoa học

Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi khi tìm hiểu và quyết định mọi việc đều nên tìm nguyên nhân, nghiên cứu, phân tích toàn diện, nên tôn trọng quy trình ra quyết định, tranh thủ ý kiến của tập thể lãnh đạo và quần chúng. Người chỉ rõ: “Gặp mỗi việc, ta nên đặt câu hỏi: Tại sao có việc này? Xử trí như vậy này, kết quả sẽ ra sao? Cần suy tính kỹ lưỡng. Đừng hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Đừng gặp sao làm vậy”. Việc gì cũng nên tìm nguyên nhân rõ ràng, cẩn trọng rồi mới quyết định và thực hiện xuất hiện nơi, xuất hiện chốn. Nhất là, đối cùng những việc mới, rắc rối có ảnh hưởng lớn đến tổ chức đảng, đơn vị, bộ đội và Nhân dân, phải làm thử, làm điểm trước khi quyết định. Tuyệt đối ko ra quyết định khi không có thông báo đầy đủ, không có phương án tính toán hiệu quả. Tránh chủ quan duy ý chí, che giấu khuyết điểm để đi theo thành tích.

Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh là làm việc nên có mục đích và kế hoạch rõ ràng, thiết thực. Muốn có kế hoạch khoa học thì người cán bộ nên “Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không phải luộm thuộm, chưa có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy”. Hết sức né chuyện vạch ra “chương trình công tác thì quá rộng rãi mà yếu thiết thực” và căn bệnh “đánh trống bỏ dùi”, gây lãng phí tiền của, nhân lực và thời gian của Nhân dân.

Phong cách làm việc khoa học là nên biết kính mến thời gian, biết giờ nào làm việc ấy và có khả năng xử lý công việc một cách tuyệt vời trong một thời gian ngắn nhất. Người đã nói: “Thời giờ cũng phải tiết kiệm như của cải. Của cải nếu hết, có thể làm thêm. Lúc thời giờ từng qua rồi, ko kéo nó trở lại được... Muốn tiết kiệm thời giờ, thì chuyện gì ta cũng nên khiến nhanh lẹ, mau lẹ. Không phải chậm rãi. Không phải “nay lần mai lữa”. Người cán bộ nên biết tiết kiệm thời gian của mình tuy nhiên cũng nên biết tiết kiệm thời gian cho người khác. Cách tốt đặc biệt tập trung xử lý dứt điểm đã công việc; ko ôm đồm, làm quá nhiều việc, nhiều việc ko dứt điểm, ko hiệu quả. Người giải thích: “ Đích nghĩa là nhằm vào đấy mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, ko bắn trúng đích nào”.

Phong cách làm việc khoa học yêu cầu người cán bộ xử lý công việc từ cơ sở dữ liệu khách quan, từ nền tảng thực tế để chọn lựa ra phương án khả thi nhất và phương án ấy nên đặt trong tổng thể chiến lược bền vững. Không được rơi vào “Bệnh cận thị - Không trông xa nhìn rộng. Những việc to tát thì ko nghĩ xuất hiện mà chỉ chăm chú những thứ tỉ mỉ”. Người cán bộ ko được bởi vì cái lợi bé trước mắt mà làm tổn hại xuất hiện lợi ích to lớn, bền vững. Tầm thấy - đấy chính là phẩm chất của người có tư duy khoa học và có cách làm việc khoa học.

Theo Hồ Chí Minh, kiểu làm việc khoa học đòi hỏi người cán bộ nên có cách đánh giá đúng người, đúng việc, sắp xếp công việc cho hợp lý; lại nên biết cách kiểm tra, gigiết hại công việc của cấp dưới một cách hiệu quả, qua đấy nhìn được việc thi hành đường lối, nghị quyết của Đảng như vậy nào và cần điều chỉnh cái gì... Người nói: “tình trạng khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau từng ko hợp thời, nếu ta ko tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ chạy những cái quá thời, sai hỏng, tất yếu ta ko theo kịp tình thế”. Kiểm tra còn có tác dụng phân loại, đánh giá cán bộ, bởi vì “Có kiểm tra... mới biết rõ khả năng và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và trợ giúp kịp thời”. Cán bộ lãnh đạo làm việc khoa học, chặt chẽ thì cấp dưới không thể “qua mặt”.

Phong cách khoa học đòi hỏi người cán bộ sau mỗi công việc nên biết rút ra kinh nghiệm cho lần sau và cho người khác. Hồ Chí Minh viết: “công chuyện gì ngẫu nhiên thành công hay thất bại, chúng ta phải nghiên cứu xuất hiện cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đấy sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để hỗ trợ cho cán bộ tiến tới”.

3. Phong cách nêu gương

Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên đều nên làm gương trong mọi công việc, từ bé xuất hiện lớn, tỏ ra đều đặn về mọi mặt; nên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kể nên chạy hai cùng làm. Người yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên đều nên nêu gương về đạo đức. Trước hết, mình nên tự làm gương, cán bộ “gắng làm gương trong ae, và khi chạy công tác, gắng làm gương cho dân”.

Về vai trò của nêu gương, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, ko nên ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn chỉ bảo Nhân dân, mình nên làm mực thước cho người ta làm theo”. Tự mình nên chính trước mới hỗ trợ người khác chính. Mình ko chính, mà có ý định người khác chính là vô lý.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Người viết:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì ko thành trời.

Thiếu một phương, thì ko thành đất.

Thiếu một đức, thì ko thành người”.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là 1 nội dung căn bản không thể thiếu trong kiểu làm việc và nhân cách của những người lãnh đạo, quản lý. Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn tất cả những cán bộ, đảng viên: “Đảng ta là 1 đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ nên thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cần bảo toàn Đảng ta thật trong sạch, nên xứng đáng từng là lãnh đạo, từng là đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, kẻ thù của lòng chí công vô tư chính là chủ nghĩa riêng tư, chỉ nhìn lợi ích riêng của mình, ko nhìn lợi ích chung của tập thể, chỉ có ý định tự tư tự lợi. Cần khắc phục chủ nghĩa riêng tư có trong mỗi người cán bộ, đảng viên thì mới có thể có kiểu làm việc cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đấy là cơ sở để hình thành hành vi đạo đức đúng đắn, một tâm hồn hướng thượng: “giàu thành không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”.

Phải nêu gương trên ba mối quan hệ cùng mình, cùng người, cùng việc. Đối cùng mình đúng ko tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân; nên tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày. Đối cùng người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, ko dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối cùng việc, dù trong tình cảnh nào cũng nên giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” đặt việc công lên trên, lên trước việc tư.

Có thể liên lạc tinh thần bởi vì công quên tư của Bác qua câu chuyện Bác gặp lại chị gái Nguyễn Thị Thanh, anh trai Nguyễn Sinh Khiêm; Bác viết thư gửi dòng họ Nguyễn Sinh khi nghe tin anh Cả mất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ là, có ý định nêu gương được thì kể nên chạy hai cùng làm. Nói chạy hai cùng làm ko chỉ là 1 chuẩn mực trong đạo đức truyền thống mà còn là chuẩn mực đạo đức công vụ tối thiểu. Với cán bộ, đảng viên, sự thống nhất chặt chẽ giữa kể và làm, giữa đạo đức và nêu gương đạo đức cần đạt đến sự nhất quán trong công việc và trong đời sống riêng, giữa đạo đức người lãnh đạo và đạo đức đời thường. Địa vị càng cao, uy tín càng lớn, càng nên ra sức hoàn thiện về đạo đức, thống nhất giữa kể và làm. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nên làm phong cách mẫu trong công tác và lối sống; trong mọi lúc, khắp nơi, kể nên chạy hai cùng làm để quần chúng noi theo.

Việc kể chạy hai cùng làm mang lại cho quần chúng lòng tin và sự tôn trọng đối cùng người cán bộ, do đó, người cán bộ dễ thực thi quyền lãnh đạo của mình.

Người phê phán những cán bộ “chỉ biết kể là nói, kể giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Tuy nhiên một chuyện gì thiết thực cũng ko làm được”. Nhân dân ko tin cậy những cán bộ kể mà ko làm, kể nhiều làm ít, kể hoặc làm dở, kể một đằng làm một nẻo. Muốn rèn luyện được kiểu kể chạy hai cùng làm, người cán bộ nên đều đặn tự kiểm điểm, soi xét chính mình, đồng thời nên khuyến khích cấp dưới và quần chúng bình luận, phê bình, góp ý cho mình, nhắc nhở mình về những điều mình từng hứa. Người cán bộ cũng nên biết né căn bệnh hình thức, bệnh “hữu danh, vô thực”, đi theo những việc hào nhoáng bên ngoài.

Trong gia đình, cha mẹ nên là tấm gương cho những con, anh chị là tấm gương đối cùng những em. Trong nhà trường, thầy giáo, cô giáo là tấm gương cho học trò. Trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hằng ngày, người cán bộ, đảng viên nên có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để biến thành con người có đời tư trong sáng, là tấm gương hỗ trợ Nhân dân thấy vào đấy mà noi theo, qua đấy làm tăng thêm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.

Trong những nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên nên luôn luôn nêu gương về tinh thần phục vụ Nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm phục vụ Nhân dân từ một triết lý sâu xa là, cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, phải chúng ta nên đền bù xứng đáng cho dân. Vì thế, cán bộ, đảng viên nên xông xáo, nhiệt tình, sâu sát Nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời kể và việc làm.

Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là 1 trong các cách tuyệt vời để xây dựng Đảng, xây dựng những tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Người khẳng định: “Người tốt, việc tốt nhiều lắm. Ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có”. Tháng 6 năm 1968, Người chỉ đạo xuất bản sách “Người tốt, việc tốt” để mọi người học tập, thực hiện như, lan tỏa cái tốt, cái đẹp trong cộng đồng.

Có thể liên lạc qua câu chuyện Bác giao thử thách cho đồng chí Hoàng Đạo Thúy về viết sách và động viên phong trào thi đua người tốt, việc tốt (Bác tặng chiếc quạt để thổi bùng phong trào thi đua).

 Phần 3
XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Khái quát

- Phong cách dân chủ, tuy nhiên quyết đoán

+ Cán bộ lãnh đạo, đặc biệt người đứng đầu ko được quan liêu, hách dịch, coi hay quần chúng nhân dân. Cần biết đời sống thực của Nhân dân, băn khoăn, trăn trở của dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ với dân.

+ Cán bộ lãnh đạo, đặc biệt những người đứng đầu, từng là có trọng trách trong một tập thể, vừa nên thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời nên quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây cũng chính là điều thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách”.

- Phong cách lãnh đạo sâu sát

+ Vai trò: Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, gigiết hại, từ đấy kiểm soát tốt hơn đối cùng việc thực thi quyền lực, kiểm tra, gigiết hại chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của Nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

+ Cách thức: chạy cơ sở, gặp mặt quần chúng, đọc báo, đọc thư của Nhân dân; kiểm tra, gigiết hại, động viên, biểu dương, nhắc nhở, phê bình, kỷ luật kịp thời...

- Khéo sử dụng người, trọng dụng người tài

+ Việc sử dụng người nên hợp lý, đúng khả năng và ưu điểm của họ, đúng người, đúng việc và nên cho họ hiểu rõ mọi mặt những công việc mà họ phụ trách.

+ Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nên làm đều đặn, liên tiếp.

- Phong cách cách mạng, khoa học, năng động, sáng tạo

+ Một yêu cầu cần thiết trong kiểu của người đứng đầu, người lãnh đạo là nên có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao cùng chức năng động, sáng tạo, sự nhạy cảm cùng cái mới.

+ “Trung cùng Đảng”, “trung cùng nước, hiếu cùng dân" là phẩm chất chính trị căn bản, tỏ ra trong mọi hoạt động của người lãnh đạo, quản lý.

+ Nhiệt tình cách mạng là yếu tố căn bản trong phẩm chất của người cán bộ đứng đầu, người lãnh đạo.

+ Tính khoa học cần được bảo đảm bằng tri thức khoa học. Nhiệt tình cách mạng chỉ rất đem lại hiệu quả khi nó được thống nhất cùng những tri thức khoa học và trên cơ sở khoa học.

+ Để có tri thức khoa học, người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu nên chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ về chính trị, văn hóa, nghiệp vụ và nắm được tình trạng trong và ngoài nước. Việc học tập nên đều đặn, liên tiếp, học tập cả lý luận và kiến thức khoa học, thực tiễn.

+ Trong công việc, nên kiên định về nguyên tắc tuy nhiên mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, hình thức, phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện.

 1. Phong cách dân chủ, tuy nhiên quyết đoán

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ lãnh đạo nên “gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp xếp nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và khiến nó thành ý kiến của quần chúng, và khiến quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta tìm hiểu lại, coi ý kiến đấy đúng hoặc không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những sở trường, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, khiến quần chúng giữ vững và thực hành.

Cứ như vậy mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước.

Đấy là cách lãnh đạo vô cùng tốt” . 

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải cách tổ chức, bộ máy nhà nước và rất nhiều công việc khác, phải thực hành cách “liên hợp lãnh đạo cùng quần chúng” và “liên hợp chính sách cùng với chỉ đạo riêng”, tức là ứng dụng quan điểm, đường lối chung hợp cùng đã tình cảnh cụ thể. Theo Người, như thế mới thật là biết lãnh đạo, quản lý.

Phong cách lãnh đạo dân chủ thì nên tựa vào quần chúng; là cán bộ lãnh đạo, đặc biệt người đứng đầu ko được quan liêu, hách dịch, coi hay quần chúng nhân dân. Cần biết đời sống thực của Nhân dân như vậy nào, năng lực và đang mong có ý định những gì? Mỗi lời nói, mỗi việc làm của người cán bộ nên hợp cùng quần chúng, phản ánh đúng được khát vọng của quần chúng. Cán bộ nên biết được những băn khoăn, trăn trở của dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ với dân.

Người phê bình cách lãnh đạo của một vài cán bộ ko dân chủ, dẫn xuất hiện tình hình người có ý kiến ko dám nói, người có ý định phê bình ko dám phê bình, khiến cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng cùng Đảng xa rời nhau, ko còn sáng kiến, ko còn nhiệt tình trong khi làm việc. Người chỉ rõ: “Người lãnh đạo có ý định biết rõ sở trường và khuyết điểm của mình, có ý định biết công tác của mình tốt hoặc xấu, ko gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế, chả những ko phạm gì xuất hiện uy tín của người lãnh đạo mà lại thể hiện dân chủ thật thà trong Đảng.

Nếu như cán bộ ko kể năng, ko đề xuất ý kiến, ko phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là 1 hiện tượng thực sự xấu. Vì ko nên họ chưa có gì nói, tuy nhiên bởi vì họ ko dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ biến thành những cái máy, trong lòng uất ức, ko dám kể ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, nản.

Người đòi hỏi nên có kiểu làm việc rất dân chủ chứ ko nên giả tạo, hình thức để che lấp ý đồ không đẹp của riêng tư. Bởi bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa trước sau sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Cán bộ lãnh đạo, đặc biệt những người đứng đầu, từng là có trọng trách trong một tập thể, vừa nên thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời nên quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây cũng chính là điều thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách”.

Có thể liên lạc về năm 1945 khi Bác ốm vẫn kiên quyết yêu cầu nên chớp thời cơ cách mạng để thực hiện Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; chuyện Bác chủ động ký Hiệp định sơ bộ 6-3, tạm ước 14-9-1946 để Việt Nam có vị thế của một quốc gia ngang hàng cùng Pháp…

Theo Hồ Chí Minh, một người dù tài giỏi xuất hiện đâu cũng không thể nắm được hết mọi mặt của một việc, cũng không thể biết hết được mọi việc trong đơn vị và đời sống cộng đồng. Cho nên, phải có cách làm việc tập thể để phát huy được trí tuệ của tập thể, của đông đảo quần chúng nhân dân nhằm làm xong sự nghiệp của một tập thể, một đơn vị hoặc địa phương mà nếu chỉ riêng người cán bộ lãnh đạo, quản lý thì ko làm nổi. Tập thể lãnh đạo là dân chủ.

Cá nhân phụ trách là nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, người quản lý. Có ý thức tập thể cao, tạo ra bầu ko khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, tuy nhiên chưa có tính quyết đoán, ko dám chịu trách nhiệm riêng tư trước tập thể, thì không thể có những quyết định kịp thời và công việc cũng không thể tiến triển được. Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý những cán bộ lãnh đạo, quản lý là: “Những việc bình thường, một người có thể xử lý đúng, thì người phụ trách cứ cẩn trọng xử lý đi. Những việc cần thiết, mới cần tập thể quyết định”.

Theo Hồ Chí Minh, trách nhiệm của người đứng đầu cần được đề cao, hai khi mang tính quyết định xuất hiện hiệu quả công việc. Phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đúng đắn là nên kết hợp thống nhất giữa cách làm việc dân chủ, tập thể cùng tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm riêng tư trước tập thể, kịp thời đưa ra những quyết định đúng. Trong những thời điểm quyết định, người lãnh đạo, quản lý nên dám nghĩ, dám làm, dám quyết... điều này ảnh hưởng trực tiếp xuất hiện việc tận dụng được thời cơ. Người đã dạy:

“Lạc nước, đôi xe đành bỏ phí,

Gặp thời, một tốt cũng thành công” .

Kết hợp tập thể lãnh đạo cùng riêng tư phụ trách, thực hiện trách nhiệm của người lãnh đạo, người đứng đầu để khắc phục những hiện tượng coi hay tập thể, hay ngược lại, tựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, ko dám quyết đoán, ko nêu cao trách nhiệm riêng tư... làm trì trệ, suy kém khả năng lãnh đạo, hiệu quả quản lý của người cán bộ lãnh đạo.

2. Phong cách lãnh đạo sâu sát

Trong thực tiễn, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về kiểu lãnh đạo sâu sát. Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa cộng đồng ở miền Bắc (1955 - 1965), ko quản tuổi cao, công việc bề bộn, Người từng thực hiện hơn 700 lượt chạy thăm những địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội..., từ miền núi xuất hiện hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, tìm hiểu tình trạng, kiểm tra công việc. Tính ra mỗi năm có hơn 60 lượt Người chạy xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần Người gặp mặt quần chúng. Ngoài ra, hằng ngày qua đọc báo, đọc thư của Nhân dân gửi lên, nhìn có những ý kiến hay, cần học hỏi, những thứ gấp cần xử lý, Người đều sử dụng bút đỏ đóng khung lại, chuyển đến những cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu nghiên cứu và xử lý.

Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, gigiết hại, từ đấy kiểm soát tốt hơn đối cùng việc thực thi quyền lực, kiểm tra, gigiết hại chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của Nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Hồ Chí Minh yêu cầu tựa vào quần chúng nhân dân để gigiết hại, kiểm tra, nhằm loại trừ những hành vi trục lợi, ăn trộm, tham ô, đục khoét, biến của công thành của riêng. Theo Hồ Chí Minh, sau khi nghị quyết từng được ban hành, nên tổ chức tốt việc thực hiện để nghị quyết chạy vào cuộc sống. Điều đấy gắn liền cùng công việc kiểm tra, gigiết hại. Muốn tốt, “nên chạy tận nơi, xem tận chỗ”. Theo Người, sở dĩ sự thực còn bị bưng bít bởi vì sự kiểm tra, gigiết hại của những ngành, những cấp ko nghiêm túc, chưa chặt chẽ.

Có thể liên lạc câu chuyện Bác chạy Thanh Hóa, Người hỏi cán bộ còn đánh vợ, còn nấu rượu lậu, bao nhiêu lãnh đạo nữ; chạy Thái Bình Người mang tờ báo về tệ đánh vợ, đánh công dân nữ để hỏi tình trạng cụ thể…

Sau kiểm tra, gigiết hại, thì cái sai phải vượt qua, sửa chữa ngay và cái đúng, cái tốt cần được động viên, biểu dương kịp thời, bởi vì biểu dương đúng người, đúng việc, đúng lúc sẽ động viên, giáo dục, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc. Người yêu cầu nhanh lẹ biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, động viên khuyến khích bằng vật chất hay tinh thần, nhằm phát triển cái tốt để chống lại cái xấu, bởi vì đối tượng xây dựng con người mới, khiến cộng đồng ngày một tiến bộ. Mỗi khi đọc trên báo chí, nhìn tấm gương “người tốt, việc tốt” nào, đặc biệt những người chạy đầu, khởi xướng phong trào, Người liền cử cán bộ chạy xác minh và tặng “Huy hiệu Bác Hồ” cho người có thành tích xứng đáng, cả nước có khoảng 5.000 người từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng “Huy hiệu Bác Hồ” qua phong trào “Người tốt, việc tốt”. Những ai được nhận “Huy hiệu Bác Hồ” đều tự hào nói lại những mẩu chuyện cảm động khi nhận phần thưởng cao quý này. Quan trọng hơn nữa, những phần thưởng đó, sau này biến thành bài học nêu gương cho những thế hệ con cháu họ.

Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Tôi ra lệnh cho Bộ Tổng tư lệnh mau chóng biểu dương những đơn vị và những chiến sĩ từng lập nhiều chiến công oanh liệt”. Trong “những thứ phải làm liền” gửi cán bộ, chiến sĩ tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Người nhắc nhở: “Xét kỹ và thông báo những đơn vị và riêng tư có công trạng nổi bật để Chính phủ biểu dương”, “bởi vì biểu dương khuyến khích vô vàn, bởi vì biểu dương là tổng kết và phổ biến kinh nghiệm ra cho mọi ngành hoạt động”, “bởi vì biểu dương cũng là 1 cách giáo dục và cổ động. Bộ đội, đồng bào có thành tích mà Trung ương, Chính phủ biểu dương thì mới nhiệt tình hơn và những người không có thành tích sẽ thi đua tích cực. Từ trước xuất hiện nay địa phương thực sự ít thông báo, bây giờ những cô, những chú nên tích cực làm”.

 3. Khéo sử dụng người, trọng dụng người tài

Là người lãnh đạo giỏi thì nên khéo sử dụng người và trọng dụng nhân tài. Xuất phát từ đối tượng chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa cộng đồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng quy tụ những trí thức được huấn luyện căn bản từ những nước phương Tây, quan lại của triều đình phong kiến cũ.

Người xác định, việc sử dụng người nên hợp lý, đúng khả năng và ưu điểm của họ, đúng người, đúng việc, chớ “sử dụng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và nên cho họ hiểu rõ mọi mặt những công việc mà họ phụ trách. Dùng người mà ko đúng công việc sẽ ko chạy, ko được việc, làm thui chột nhân tài, không tốt cho Đảng và cũng tỏ ra sự kém yếu trong công tác cán bộ của Đảng. Người nghĩ là: “Trong những ngành hoạt động của chúng ta... ko thiếu những người có khả năng, có sáng kiến... Tuy nhiên bởi vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng vì vậy có những người như vậy cũng bị dìm xuống, ko được cất nhắc. Muốn né khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta phải sửa chữa cách lãnh đạo” .

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý nên biết trọng dụng nhân tài, nếu ko sẽ làm “thui chột” nhân tài. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nên làm đều đặn, liên tiếp như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý giá. Cần trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ là, trọng dụng nhân tài nên biết tùy tài mà sử dụng người: “Tài to ta sử dụng làm việc to, tài bé ta cắt làm việc nhỏ, ai có khả năng cho việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết sử dụng người như thế, ta sẽ ko lo gì thiếu cán bộ”. Bởi vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong lúc còn bộn bề khốn khó, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tò mò tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng trong việc tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài. Ngày 14-11-1945 trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Kiến thiết phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù không có nhiều tuy nhiên nếu chúng ta khéo chọn lựa, khéo phân phối, khéo sử dụng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Người chủ trương nên “tìm người tài đức”.

Có thể liên lạc chuyện năm 1945 Bác viết bài báo “Nhân tài và kiến quốc” cầu người tài cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc; Bác mời Cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ lâm thời; Bác Hồ phong tướng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Trung tướng Nguyễn Bình, Thiếu tướng Nguyễn Sơn…

4. Phong cách cách mạng, khoa học, năng động, sáng tạo

Một yêu cầu cần thiết trong kiểu của người đứng đầu, người lãnh đạo là nên có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao cùng chức năng động, sáng tạo, sự nhạy cảm cùng cái mới. “Trung cùng Đảng", “trung cùng nước, hiếu cùng dân" là phẩm chất chính trị căn bản, tỏ ra trong mọi hoạt động của người lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều chủ chốt trong kiểu làm việc của cán bộ lãnh đạo là phải: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của riêng tư mình. Hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Vì Đảng, bởi vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc".

Nhiệt tình cách mạng là yếu tố căn bản trong phẩm chất của người cán bộ đứng đầu, người lãnh đạo. Vì có nhiệt tình cách mạng, người cán bộ lãnh đạo mới say mê, tận tụy cùng công việc để tìm ra những phương án sáng tạo nhằm thực thi thử thách đạt hiệu quả cao. Tính cách mạng, lòng yêu nước, thương dân là động lực lớn lao thôi thúc người lãnh đạo, quản lý chuyên lòng, lo toan, tận tụy, say mê cùng công việc. Đồng thời, người lãnh đạo nên có sự tìm tòi sáng tạo, đề xuất được những ý kiến hay, những phương án tối ưu để thực thi thử thách đạt hiệu quả cao. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo, nên là những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có đạo đức cách mạng, có tinh thần anh dũng, gương mẫu, chịu đựng gian khổ, hy sinh và có khả năng thực hiện thử thách được giao.

Hồ Chí Minh nghĩ là, tính khoa học cần được bảo đảm bằng tri thức khoa học. Nhiệt tình cách mạng chỉ rất đem lại hiệu quả khi nó được thống nhất cùng những tri thức khoa học và trên cơ sở khoa học. Nhiệt tình cách mạng sẽ biến thành duy tâm, duy ý chí nếu thiếu tri thức khoa học. Thực tiễn cho thấy, có nhiệt tình mà thiếu tri thức khoa học sẽ dẫn đến sai lầm, chệch hướng, làm hỏng đường lối, chính sách, việc làm trái quy luật, thậm chí dẫn xuất hiện phá vô ý thức. Những chương trình, dự án, kế hoạch cùng những ý tưởng tốt đẹp, tuy nhiên do thiếu tri thức dẫn xuất hiện thất bại, gây nên tổn thất nặng nề.

Để có tri thức khoa học, người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu nên chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ về chính trị, văn hóa, nghiệp vụ và nắm được tình trạng trong và ngoài nước. Chủ quan, tự mãn, ít nghiên cứu lý luận và thực tiễn phải gặp thuận lợi dễ lạc quan, gặp thành công sớm dễ mắc nên căn bệnh kiêu ngạo; khi gặp khốn khó thì dễ bối rối, bị động, dẫn xuất hiện bi quan, dao động, lập trường cách mạng ko vững... Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên kể chung, đặc biệt cùng cán bộ lãnh đạo: “Học hỏi là 1 việc nên tiếp tục suốt đời. Suốt đời nên gắn liền lý luận cùng công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình từng biết đủ rồi, biết hết rồi.

Thế giới ngày ngày đổi mới, Nhân dân ta ngày càng tiến bộ, vì vậy chúng ta nên tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp Nhân dân”.

Có thể liên lạc chuyện Bác học ngoại ngữ, chuyện cuốn sách tiếng Tây Ban Nha gối đầu giường những năm cuối đời của Người.

Học tập, nghiên cứu, “học và hành” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận cùng thực tiễn, kể chạy hai cùng làm. Cán bộ, đảng viên phải có lý luận lãnh đạo, cần nắm chắc lý luận mới có thể làm xong thử thách của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì bối rối như nhắm mắt mà đi”, “Làm mà chưa có lý luận thì ko khác gì chạy mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hoặc vấp váp”.

Khẳng định vai trò của lý luận, Hồ Chí Minh chỉ rõ sự quan trọng nên biết liên lạc lý luận cùng thực tiễn trong công tác lãnh đạo. Vì: “Thực tiễn chưa có lý luận chỉ bảo thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà ko liên lạc cùng thực tiễn là lý luận suông”, phải lý luận mà xa rời thực tiễn thì trước sau sẽ dẫn đến bệnh giáo điều, sách vở, phải người cán bộ lãnh đạo nên nắm chắc lý luận, đồng thời qua kinh nghiệm làm việc, nên hiểu rõ sự vận động của những quan điểm lý luận trong thực tiễn, qua đấy dự báo được những biến đổi của tình trạng, của thử thách cách mạng, từ đấy mới có thể thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.

Một trong những yêu cầu về kiểu làm việc của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu là nên nắm chắc lý luận, tuy nhiên ko được “lý luận suông”, mà nên có khả năng ứng dụng lý luận vào thực tiễn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối cùng mọi người và đối cùng bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng một cách sáng tạo vào tình cảnh thực tế của nước ta”. Người chủ trương “nên gắn lý luận cùng công tác thực tế”. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng nên xuất phát từ tình trạng cụ thể, giải thích cho quần chúng hiểu và thực hiện những chủ trương, chính sách đó, như vậy “lý luận mới ko tách rời thực tế”.

Trong mọi công tác, tùy theo tình cảnh cụ thể, người lãnh đạo có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để làm xong chức trách, thử thách của mình. Nhưng, phải có sự chắc chắn, ko thay đổi trong những việc thuộc về nguyên tắc, đấy là những việc có tính chiến lược, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là "bất biến, nên giữ vững như sắt đá”.

Cùng cùng kiên định về nguyên tắc những việc chiến lược, thì sách lược cách mạng, những hình thức, phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện nên mềm dẻo, linh hoạt, hợp cùng thực tế để có thể đạt kết quả cao nhất. Điều đấy thuộc về khả năng của người lãnh đạo, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tỏ ra sự linh hoạt trong hoạt động lãnh đạo của mình.

Theo Hồ Chí Minh, đối tượng đặt ra cần được cụ thể trong đã quá trình. Tính bất biến, đối tượng trong tất cả những quá trình của cách mạng là độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Trong bản Di chúc, Người kể lên mong có ý định tận cùng, cũng là đối tượng chung của cuộc cách mạng là “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” . Nhưng, con đường chạy xuất hiện đối tượng đấy là con đường đấu tranh bền vững, đầy khốn khó, gian khổ. Người đứng đầu, người lãnh đạo cần sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để xác định sách lược, hình thức, biện pháp thực hiện trong những tình cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, trong mỗi bước đi, mỗi bước tiến lên của cách mạng. 

Những nội dung xây dựng kiểu lãnh đạo nêu trên ko nằm ngoài những quy định chung trong kiểu làm việc của cán bộ, đảng viên, đồng thời có yêu cầu cao hơn, tỏ ra địa điểm, vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trên cương vị lãnh đạo.

Phần 4
ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO
PHONG CÁCH LÀM VIỆC, PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 1. Tăng cường giáo dục, rèn luyện, xây dựng kiểu làm việc, kiểu lãnh đạo trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt người đứng đầu những cấp, những ngành

Đưa nội dung giáo dục và xây dựng kiểu làm việc, kiểu lãnh đạo của Hồ Chí Minh vào những chương trình huấn luyện, bồi dưỡng trong hệ thống học viện, trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện dành cho cán bộ, đảng viên và cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu những cấp, những ngành, trong đấy lưu ý trang bị hệ thống tri thức tổng hợp, phương pháp tư duy khoa học và khả năng tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Tăng cường việc giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; những tri thức khoa học và kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý tiên tiến cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thông qua việc giáo dục, học tập nâng cao ý chí, nghị lực để xử lý những việc, những khốn khó, nhiệm vụ trong thực tế công tác; có năng lực đề kháng cùng những cái xấu, tiêu cực, né được sự cám dỗ quyền lực, đặc quyền, đặc lợi,...

Thực hiện nghiêm Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt cán bộ lãnh đạo chủ chốt những cấp cho việc học tập và thực hiện như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một vài việc phải làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên.

2. Giữ vững nguyên tắc “tập trung dân chủ” và “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách”

Giữ vững nguyên tắc “tập trung dân chủ” trong làm việc và tuân thủ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, riêng tư phụ trách” trong lãnh đạo, quản lý. Tăng cường phát huy dân chủ để khơi dậy tính sáng tạo, tập trung trí tuệ tập thể cho việc xây dựng, thực hiện, kiểm tra, gigiết hại việc thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đồng thời, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu. Xây dựng quy định trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy, người đứng đầu những cấp trong thực thi công vụ, trong đó, nêu rõ những yêu cầu về kiểu làm việc, kiểu lãnh đạo.

3. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên

Đẩy nhanh việc xây dựng những quy định, quy chế, nội quy trong thực thi công vụ và thực hiện nghiêm túc những quy định về công tác quản lý cán bộ, đảng viên, đặc biệt cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, kiểu làm việc, kiểu lãnh đạo.

 Tài liệu vẫn có, mời những bạn tải tài liệu để xem thêm nội dung chi tiết.


Link Tải Nội dung học tập chuyên đề năm 2018 học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới nhất:

Tải về máy (501,9 KB)
Link dự phòng 1 (Hoạt động)
Link dự phòng 2 (Hoạt động)
Link dự phòng 3 (Hoạt động)